Trang chủ >  Dịch vụ
Điều tra kiến thức và thực hành về phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

       Bệnh SXHD do muỗi truyền là một trong những nguy hại toàn cầu ảnh hưởng tới 50% dân số thế giới. Trong 20 năm trở lại đây, số mắc mới tăng gấp 3 lần so với 30 năm về trước [1]. Mật độ và thời gian di chuyển giữa các khu vực tăng cao cùng với khí hậu toàn cầu thay đổi đã làm cho SXHD ngày càng mở rộng vùng phân bố và số mắc. Bởi chưa có vacxin phòng bệnh nên phòng chống muỗi véc tơ là biện pháp được Tổ chức Y tế thế giới và các nhà hoạch định chiến lược y tế sử dụng làm chiến lược chính nhằm đương đầu với căn bệnh toàn cầu này [2, 3].

       Tại Việt Nam, bệnh SXHD là bệnh dịch lưu hành địa phương, nhất là các tỉnh đồng bằng châu thổ Nam bộ, duyên hải Trung bộ và vùng đồng bằng, duyên hải Bắc bộ [4,5]. Tuy vậy, từ năm 2008 đến nay,một số tỉnh miền núi phía Bắc đã ghi nhận có các ca bệnh SXHD rải rác, cụ thể:năm 2008 có 4 trường hợp được ghi nhận mắc SXHD tại Sơn La (2 ca) và Tuyên Quang (2 ca), năm 2009 có 13 trường hợp được ghi nhận mắc SXHD tại Sơn La (11 ca) và Bắc Kạn (2 ca), năm 2010 đã ghi nhận 12 ca SXHD tại các tỉnh thuộc miền núi phía Bắc[5,6]. Đặc biệt, những ca bệnh này phần lớn là sinh viên hoặc những người đi làm ăn tại Hà Nội hoặc khu vực có dịch SXHD lưu hành [4].Năm 2010, một vụ dịch SXHD đã xảy ra tại 1 huyện Hương Khê, Hà Tĩnh – huyện miền núi, với số ca mắc được ghi nhận là 155 ca và tại đây 100% nhà điềutra đều phát hiện thấy sự có mặt của muỗi Aedes albopictus, trong khi chỉ có 4,0% (2/50) nhà phát hiện có muỗi Aedes aegypti [7].

          Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế, dân số và sự đô thị hóa thì sự giao lưu thương mại giữa các vùng miền của chúng ta cũng ngày càng lớn sẽ đẩy mạnh mối liên quan giữa người mang vi rút dengue, loài muỗi Aedes truyền bệnh và người lành tại cộng đồng. Những mối quan hệ này làm tăng nguy cơ phát tán virút dengue từ nơi khác tới [8,9]. Vì thế dịch SXHD có thể xuất hiện và lan rộng đến những vùng núi, vùng cao nguyên biên giới phía Bắc. Các thành phố, thị trấn miền núi cũng đang được đô thị hóa mạnh mẽ với nhiều công trình xây dựng mới, thay đổi môi sinh và cả hành vi của con người sẽ có thể làm tăng nguy cơ bùng phát SXHD tại khu vực này. Mặc dù, dự án phòng chống SXHD đã được mở rộng, bổ sung 11 tỉnh miền núi phía Bắc vào diện cần thiết phải thực hiện giám sát và phòng chống SXHD. Tuy nhiên, do nguồn lực còn nhiều hạn chế nên cáchoạt động phòng chống SXHD tại các tỉnh này mới chỉ tập trung một phần vào công tác giám sát, tuyên truyền [4,6]. Trước hiện trạng cảnh báo một nguy cơ bùng phát dịch SXHD tại các tỉnh miền núi phía Bắc, chúng tôi tiến hành điều tra kiến thức và thực hành về phòng chống bệnh SXHD tại 11 tỉnh miền núi phía Bắc nhằm củng cố, bổ sung và nâng cao chất lượng công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe, nâng cao nhận thức của cộng đồng về bệnh SXHD và các biện pháp phòng chống.

 II. ĐỐITƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.  Đối tượng nghiên cứu: Chủ hộ gia đình từ15 tuổi trở lên.

2. Địa điểm nghiên cứu và kỹ thuật thu thập thông tin: Nghiên cứu được triển khai tại 11 tỉnh miền núi phía Bắc gồm Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang và Phú Thọ (Biểu đồ 1). Mỗi tỉnh được lựa chọn hai điểm nghiên cứu gồm 01 điểm thành thị và 01 điểm nông thôn.

3.Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu điều tra cắt ngang. Mỗi điểm lựa chọn ngẫu nhiên 50 hộ gia đình và tiến hành phỏng vấn một người đại diện cho mỗi hộ gia đình thông qua bộ câu hỏi được thiết kế sẵn.

4. Thời gian nghiên cứu: Thời gian triển khai nghiên cứu này từ tháng 10 – 11/2011

5.  Kỹ thuật phân tích sốliệu: Số liệu được nhập và phân tích bằng Excel, Arcview, SPSS.

III. KẾTQUẢ VÀ BÀN LUẬN

Các tỉnh miền núi được phân chia theo các vùng địa giới. Vùng Tây Bắc Bộ bao gồm: Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái và vùng Đông Bắc Bộ bao gồm: Hà Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Phú Thọ. Phú Thọ và Sơn La là 2 tỉnh trong các tỉnh Miền Núi phía Bắc có số dân cao nhất tương ứng là 1.313 và 1.080 triệu người, ngược lại tỉnh Bắc Cạn và Lai Châu là 2 tỉnh có số dân thấp nhất tương ứng là  0,294 và 0,370 triệu người. Tỉnh Yên Bái và tỉnh Phú Thọ có độ cao thấp nhất so với mặt nước biển tương ứng là  41 và 40 mét trong khi Lai Châu có độ cao là 846 mét. Mười một tỉnh miền núi phía Bắc có tổng số 2.181 xã, phường thuộc 94 quận, huyện.

 

Biểu đồ 1: Bản đồ các tỉnh Miền Núi phía Bắc và số mắc SXHD giai đoạn 2006-2011

         Đây là các tỉnh loại C (các tỉnh có nguy cơ thấp) trong chương trình phòng chống SXHD quốc gia, số mắc SXHD ghi nhận trong giai đoạn 2006 đến 2011 là 37 trường hợp, 6/11 tỉnh có bệnh nhân SXHD chủ yếu là bệnh nhân đi làm ăn từ nơi khác về, hai tỉnh Sơn La và Phú Thọ có số mắc SXHD cao trong giai đoạn với 13 trường hợp (Biểu đồ 1).

1. Kiến thức của người dân tại 11 tỉnh miền núi hiểu biết về bệnh SXHD

Nhóm điều tra đã tiến hành phỏngvấn 1.100 người dân sinh sống tại hai điểm thành thị và nông thôn thuộc 11 tỉnh miền núi phía Bắc. Trong đó, số người được phỏng vấn nữ là 580 và 520 nam, độ tuổi của người được phỏng vấn trên 50 tuổi chiếm tỷ lệ cao (41%) so với các độ tuổi khác nhưng trong số đó là cán bộ, công chức nhà nước đã nghỉ hưu chỉ chiếm có khoảng 12,8%. Nghề nghiệp còn của người được phỏng vấn chủ yếu là người lao động tự do hoặc những người phụ nữ ở nhà nội trợ và nông dân (Bảng 1). 

Bảng 1. Kiến thức cơ bản của người dân về triệu chứng và cách phòng chống bệnh SXHD

 

Đối tượng tham gia phỏng vấn

(n = 1.100)

 

 

Triệu chứng sốt xuất huyết dengue

 

Giá trị P

 

Cách phòng chống bệnh SXHD

 

Giá trị P

Đúng hoặc đúng nhưng chưa đủ

Không biết hoặc biết nhưng sai

Đúng

Sai

Độ tuổi

 

<= 20

11

(45,8%)

13

(54,2%)

X2 = 7,87

P = 0,096

3 (12,5%)

21 (87,5%)

X2 = 0,66

P = 0,62

21-30

73

(43,5%)

95

(56,5%)

12 (7,1%)

156 (92,9%)

31-40

71

(31,7%)

153

(68,3%)

23 (10,2%)

201 (89,7%)

41-50

78

(33,3%)

156

(66,7%)

22 (9,4%)

212 (90,6%)

>=50

155 (34,4%)

295

(65,6%)

51 (11,3%)

399 (88,7%)

Giới tính

 

Nam

205

(39,4%)

315

(60,6%)

X2 = 7,44

P = 0,01

49 (9,4%)

471 (90,6%)

X2 = 0,48

P = 0,49

Nữ

183

(31,5%)

397

(68,5%)

62 (10,7%)

518 (89.3%)

Nghề nghiệp

 

Nông dân

117

(26,3%)

328

(73,7%)

X2 = 35,65

P < 0,01

35 (7,9%)

410 (92,1%)

X2 = 30,5

P <0,01

Giáo Viên

21

(61,8%)

13

(38,2%)

12 (35,3%)

22 (64,7%)

Cán bộ nghỉ hưu

65

(46,1%)

76

(53,9%)

21 (14,9%)

120 (85,1%)

Nghề khác

185

(38,1%)

295

(61,9%)

43 (8,9%)

437 (91,1%)

       Trong nghiên cứu này để phân tích được dễ dàng hơn chúng tôi phân chia sự hiểu biết của người dân về triệu chứng của bệnh SXHD thành 2 nhóm. Nhóm 1 là những người hiểu đúng hoàn toàn hoặc hiểu đúng nhưng chưa đủ về triệu chứng của bệnh SXHD, nhóm còn lại là những người trả lời “không biết” hoặc trả lời nhưng sai hoàn toàn. Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ người dân được hỏi rơi vào nhóm 1 chiếm 35,3%, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Hải và cộng sự năm 2008 [10] tại Mỹ Tho, Tiền Giang cho thấy tỷ lệ các bà mẹ nhận biết được các dấu hiệu của SXHD từ 50 – 90% và cũng thấp hơn nghiên cứu của Thanh và cộng sự [11] tại Hà Nội năm 2011 là 61%. Nghiên cứu cho thấy ở các độ tuổi khác nhau sự hiểu biết về triệu chứng của bệnh SXHD là không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P> 0,05). Nhận thức về triệu chứng của bệnh SXHD của nam (39,4%) cao hơn của nữ (31,5%) (P < 0,05). Nghề nghiệp của những người được phỏng vấn lại ảnh hưởng rất lớn đến kiến thức về triệu chứng của bệnh SXHD và sự khác nhau này có nghĩa mạnh trong thống kê (P < 0,01). Tỷ lệ giáo viên nằm trong nhóm 1 đạt tỷ lệ cao nhất (61,8%), trong khi đó những người thuần nông lại đạt tỷ lệ thấp nhất (26,3%) (Bảng 1).

       Mặt khác kết quả nghiên cứu còn cho thấy không có sự khác nhau về kiến thức trong phòng chống bệnh SXHD của người dân ở các độ tuổi khác nhau và giới tính khác nhau (P> 0,05). Tuy nhiên nghề nghiệp của những người được phỏng vấn lại có sự ảnh hưởng rất lớn đến kiến thức phòng chống bệnh SXHD và sự khác nhau này có nghĩa thống kê cao (P < 0,01). Tỷ lệ hiểu đúng cao nhất (35,3%) là giáo viên, tiếp sau đó là cán bộ nghỉ hưu (14,9%) và những người thuần nông lại đạt tỷ lệ thấp nhất (7,9%). 

 Bảng 2. Nguồn cung cấp kiến thức của người dân tại 11 tỉnh miền núi về bệnh SXHD

Kiến thức cơ bản về bệnh SXHD

Đông Bắc Bộ

(n = 600)

Tây Bắc Bộ

(n=500)

Tổng cộng (n=1.100)

Số lượng

Tỷ lệ %

Số lượng

Tỷ lệ %

Nguồn cung cấp kiến thức

 

 

 

 

 

Đài

180

30,0

187

37,4

367

Sách, báo, tạp chí

125

20,8

133

26,6

258

Ti vi

380

63,3

375

75,0

755

Nhân viên y tế

190

31,7

159

31,8

349

Các thầy thuốc tư

16

2,7

11

2,2

27

Chính quyền xã

30

5,0

21

4,2

51

Trưởng thôn

35

5,8

30

6,0

65

Đoàn thể quần chúng

30

5,0

18

3,6

48

Bản thân người nhà hoặc hàng xóm từng bị SXHD

15

2,5

24

4,8

39

       Nguồn thông tin giúp người dân hiểu biết về bệnh SXHD chủ yếu được xem qua tivi (68,6%), ngoài ra kiến thức về bệnh SXHD còn được biết qua các phương tiện truyền thông khác như đài tiếng nói(33,4%); nhân viên y tế (31,7%); sách, báo, tạp chí (23,5%). Nguồn cung cấp kiến thức của 2 khu vực Đông Bắc Bộ và Tây Bắc Bộ nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể nào. Sau gần 7 năm kể từ khi tham gia Chương trình mục tiêu phòng chống SXHD đến nay, hoạt động tuyên truyền về bệnh SXHD tại 11 tỉnh miền núi phía Bắc đã cơ bản giúp người dân hiểu và nhận biết được một số đặc điểm quan trọng của bệnh SXHD. Năm 2012 cũng là năm đầu tiên triển khai mạng lưới công tác viên tại các tỉnh miền núi phía Bắc, tuy nhiên so với yêu cầu của Dự án SXHD quốc gia 90% hộ gia đình tại xã có cộng tác viên được cung cấp kiến thức trong phòng chống dịch bệnh và cam kết không có bọ gậy tại hộ gia đình là việc làm hết sức khó khăn, đòi hỏi Ban điều hành Dự án khu vực miền Bắc phải nỗ lực nhiều hơn nữa trong tập huấn, tuyên truyền và phát huy tối đa vai trò, nhiệm vụ của mạng lưới cộng tác viên. 

2. Kiến thức về loài và một số tập tính của muỗi truyền bệnh SXHD

      Kiến thức về loại muỗi gây bệnh và thời gian hoạt động của loại muỗi này ở khu vực Tây Bắc Bộ cao hơn khu vực phía Đông Bắc Bộ nhưng nhìn chung cho cả khu vực miền núi còn khá thấp. Chỉ có 55,8% người dân biết đúng loài muỗi Aedes (dân gian thường gọi là muỗi vằn) và tỷ lệ người dân hiểu về một số tập tính của muỗi Aedes còn rất thấp: 10,1% người dân biết muỗi thường đốt vào ban ngày; 24,1% người có khả năng phát hiện vị trí trú đậu của muỗi ở quần áo, chăn màn, vật trong nhà; 24,7% biết bọ gậy sống ở dụng cụ phế thải, bát kê chân chạn, lọ hoa, chậu cảnh; 16,3% người biết bọ gậy ở trong dụng cụ chứa nước ăn. Hiểu biết về các biện pháp phòng chống bọ gậy và muỗi truyền bệnh SXHD; 37,5% biết thả cá diệt bọ gậy; 19,5% biết thau rửa dụng cụ chứa nước và 14,5%biết thu nhặt, phá hủy dụng cụ phế thải loại trừ ổ chứa bọ gậy. Như vậy, kiến thức sai, chưa đầy đủ và không đồng đều có thể là nguyên nhân dẫn đến việc thựchành và áp dụng các biện pháp phòng chống bệnh SXHD chưa cao (Bảng 3).

     Bảng 3.Hiểu biết về đặc điểm loài và một số tập tính của muỗi truyền bệnh SXHD 

 

Kiến thức về loài và một số tập tính của muỗi truyền bệnh SXHD

Đông Bắc Bộ

 (n = 600)

Tây Bắc Bộ

(n=500)

Tổng cộng (n=1.100)

Số lượng

Tỷ lệ %

Số lượng

Tỷ lệ %

1

Muỗi truyền bệnh là muỗi vằn

328

54,7

286

57,2

614

2

Thời gian thường hoạt động

Vào ban ngày

84

14,0

27

5,7

111

Vào ban đêm

36

6,0

76

15,2

112

Cả ban ngày và ban đêm

98

16,3

159

31,8

257

Không biết

49

8,2

85

17,0

134

3

Vị trí trú đậu của muỗi truyền bệnh SXHD

Trong lùm cây,bụi cỏ ngoài nhà

76

12,7

186

37,2

262

Trong rừng, trên đồng lúa

12

2,0

48

9,6

60

Trên quần áo, chăn màn, vật trong nhà

186

31,0

79

15,8

265

Nơi khác

61

10,2

163

32,6

224

4

 

Nơi sinh sống của bọ gậy Aedes

DCPT, bát kê chân chạn, lọ hoa, chậu cảnh

196

32,7

76

15,2

272

DCCN ăn

109

18,2

70

14,0

179

Ao, hồ, sông, suối

95

15,8

101

20,2

196

Ruộng lúa

12

2,0

29

5,8

41

Nơi khác

220

36,7

245

49,0

465

5

Biết các biện pháp diệt bọ gậy Aedes

Thả cá

280

46,7

132

26,4

412

Thau rửa DCCN

120

20,0

95

19,0

215

Thu nhặt, phá hủy dụng cụ phế thải

89

14,8

70

14,0

159

 3. Thực hành về phòng chống SXHD của người dân tại 11 tỉnh miền núi

       Tại các điểm nghiên cứu, tỷ lệ người dân thực hành áp dụng các biện pháp phòng chống bệnh SXHD còn rất thấp. Họ có thể hiểu biết về triệu chứng bệnh SXHD, cách phòng ngừa muỗi đốt, cách loại trừ ổ bọ gậy, nhưng kết quả thực hành đúng cho thấy: người dân thả cá vào bể nước (23,4%); thu nhặt và phá hủy dụng cụ phế thải(13,3%); thau rửa dụng cụ chứa nước (12,3%); nằm màn tránh muỗi đốt (10,1%); hộ gia đình dùng bình xịt hóa chất để diệt muỗi (10,2%).

 Bảng 4. Kiến thức của người dân về SXHD liên quan đến thực hành của họ về phòng chống muỗi và bọ gậy Aedes.

 

  

Kiến thức về SXHD

Đông Bắc Bộ

           Tây Bắc Bộ

Thực hành PC

 SXHD

Thực hành PC

SXHD

Đúng

Sai

Đúng

Sai

Đúng, đúng nhưng chưa đủ

112

52,1%

103

47,9%

96

55,5%

77

44,5%

Không biết

50

12,5%

350

87,5%

35

11,2%

277

88,8%

Giá trị P

OR = 4,17

X2 = 75,8   P < 0,01   

OR = 4,95

X2 = 70,2    P < 0,01    

    Như vậy, tỷ lệ người dân áp dụng và thực hành các biện pháp phòng chống bệnh SXHD là 26% còn rất thấp so với kiến thức mà họ đang có. Kết quả nghiên cứu này cũng thấp hơn so với nghiên cứu của Thanh và cộng sự [11] tiến hành tại Hà Nội năm 2011 là 41,8%. Điều này cho thấy tại các tỉnh miền núi phía Bắc do công tác truyền thông còn yếu, không thường xuyên nên kiến thức và thực hành phòng chống SXHD thiếu hụt, không đồng đều. Mặt khác, tỷ lệ mắc bệnh SXHD ở 11 tỉnh này thấp nên chưa nhận được sự quan tâm đúng mực của các cấp chính quyền cũng như sự lơ là của cộng đồng ở đây. Để phân tích rõ hơn mối quan hệ giữa kiến thức và thực hành của người dân trong phòng chống SXHD chúng tôi phân tích mối tương quan trên bảng 2 x 2 (Bảng 4). Kết quả cho thấy tại khu vực phía Đông Bắc Bộ những người có kiến thức về bệnh SXHD thực hành đúng về phòng chống bệnh SXHD cao gấp 4,17 lần so với những người không có kiến thức về bệnh và tại khu vực phía Tây Bắc Bộ những người có kiến thức về bệnh SXHD cũng thực hành đúng về phòng chống bệnh SXHD cao gấp 4,95 lần so với những người không có kiến thức về bệnh. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Thanh và cộng sự [11] tiến hành tại phường Hàng Bài, Hà Nội năm 2011 là những người có kiến thức không đạt có thực hành không đúng cao gấp 3 lần người có kiến thức đạt. 

IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

         Tỷ lệ người dân biết nguyên nhân mắc SXHD là do muỗi truyền và cách phòng chống bệnh SXHD là diệt muỗi và bọ gậy tại 11 tỉnh miền núi phía Bắc tương đối thấp. Ngoài ra, kiến thức về loài muỗi Aedes vàmột số tập tính của loài (thời gian thường đốt người; vị trí trú đậu của muỗi;nơi sinh sống của bọ gậy; các biện pháp diệt bọ gậy và phòng muỗi đốt) chưa cao,hiểu biết chưa đầy đủ. Do đó, các biện pháp thực tế áp dụng để diệt muỗi và bọ gậy Aedes còn rất thấp. Tầng lớp trí thức như giáo viên và cán bộ nghỉ hưu có nhận thức về bệnh SXHD, cách phòng chống SXHD đúng và thực hành đúng chiếm tỷ lệ cao hơn những người có học vấn thấp. 

          Các tỉnh trong nghiên cứu là các tỉnh loại C trong Chương trình phòng chống SXHD quốc gia, mặc dù số ca mắc SXHD đã được ghi nhận nhưng tỷ lệ mắc bệnh còn thấp, do đó ý thức của cộng đồng dân cư còn lơ là, chủ quan, các hoạt động phòng chống SXHD chưa nhận được sự quan tâm, hỗ trợ đồng bộ của ngành y tế và của chính quyền các cấp. Trước nguy cơ tiềm tàng xảy ra dịch SXHD tại các tỉnh này, hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe cần được củng cố, tăng cường hơn nữa để nâng cao nhận thức và cung cấp những kỹ năng về phòng chống bệnh SXHD cho người dân trên địa bàn. Hơn nữa, các hoạt động về phòng chống bệnh SXHD cần được triển khai tăng cường và đồng bộ tại ít nhất 2% số xã, phường điểm của các tỉnh này. 

LỜI CÁM ƠN

        Chúng tôi trân trọng cám ơn Ban điều hành Dự án phòng chống SXHD quốc gia và Trung Tâm Y tế Dự phòng 11 tỉnh miền núi phía Bắc gồm Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang và Phú Thọ đã nhiệt tình ủng hộ, tham gia và phối hợp chặt chẽ với Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương trong quá trình thực hiện nghiên cứu. 

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Secretariatof Fifty-fifth World Health Assembly, Dengue prevention and control. DengueBull 26 (2002), pp. 218–220.

2.   DJ. Gubler, Epidemic dengue/denguehemorrhagic fever as a public health, social and economic problem in the 21stcentury. Trends Microbiol 10(2002), pp. 100–103.

3.      DJ. Gubler, Aedes aegypti and Aedesaegypti-borne disease control in the 1990s: top down or bottom up. AmTrop Med Hyg 40 (1989), pp.571–578.

4.      Tài liệu "Hướng dẫn giám sát và phòng chống sốt xuất huyết Dengue” ban hành kèm theo quyết định số 1499/GĐ-BYT ngày 17/5/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

5.      Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương. 2011. Báo cáo tổng kết giai  đoạn 1990 – 1995 và giai đoạn 1996 – 2010, Dựán Phòng chống SXHD khu vực phía Bắc.

6.       Kế hoạch phòng chống SXHD khu vực Miền Bắc giai đoạn 2011 – 2015.

7.      Vũ Trọng Dược, Đinh Thị Vân Anh, Thẩm Chí Dũng, Trần Vũ Phong, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Thị Mai Anh và Trần Như Dương. 2011. Đặc điểm dịch tễ học của vụ dịch sốt xuất huyết tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, 2010. Tạp chí Y học dự phòng, tập XXI, số 2, 63 – 68.

8.    Vũ Trọng Dược, Đinh Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Mai Anh, Ninh Văn Chủ, Trần Thị Diệp, Vũ Quyết Thắng, Nguyễn Văn Dũng và  Trần Như Dương. 2012. Đặc điểm dịch tễ học của vụ dịch sốt xuất huyết Dengue tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Tạp chí Y học dự phòng, tập XXI, số 1,27 – 33.

9.    Vũ Trọng Dược, Thẩm Chí Dũng, Trần Vũ Phong,Chen Cheng – Chen. 2011. Khoảng cách phát tán tối đa của muỗi cái trưởng thành Aedes aegypti và Aedes albopictus tại khu vực thành thị. Tạp chí thông tin YDược, số 9: 30-34

10.  Tạ Thạnh Hải, Tạ Văn Trâm. 2008. Kiến thức, thái độ,hành vi của các bà mẹ về phòng chống sốt xuất huyết Dengue. Tạp chí  Y Hoc TP. Ho Chi Minh, tập12, số 4: 142 – 146.

11.  Nguyễn Hồng Thanh, Vũ Sinh Nam, Nguyễn Thị Kim Tiến và  Phan Trọng Lân. 2011. Kiến thức và thực hành phòng chống sốt xuất huyết Dengue tại hai phường Lý Thái Tổ và Hàng Bài quận Hoàn Kiếm, Thành Phố Hà Nội, năm 2009. Tạp chí Y Hoc Dự Phòng, tập XXI, số 3, 187 – 196.

 

KNOWLEDGE AND PRACTICE ON DENGUE HEMORRHAGIC FEVER IN 11 NORTH  MOUNTAIN PROVINCE , VIETNAM, 2011.

Vu Trong Duoc, Dinh Thi Van Anh, Tran Vu Phong, Nguyen Hoang Le, Vu Trong Thang, Tran Dưc Dong, Tran Chi Cuong, Nguyen Tra Giang, Nguyen Van Soai, Tran Hai Son, Nguyen Thi Mai Anh  va  Tran Nhu Duong.

National Institute of Hygiene and Epidemiology

Abstract:

Denguefever (DHF) disease is an acute viral disease transmitted by mosquitoes. Atpresent, there is no specific treatment for dengue and a vaccine is still underdevelopment. An approach that has proved to be effective in dengue controlamong a number of global prevention strategies, is an intergration of denguevector control and community mobilization. A cross-sectional study on communityknowledge, attitudes and practices on DHF control has been conducted in 11northern mountainous provinces during October and November 2011. 35.3% ofrespondents could identify the correct sign and symptoms of DHF. However, only10.1% of respondents could nominate any dengue control activities. In terms ofdengue vector control practices, the percentage of  householders who applied appropriate methodsto eliminate dengue vectors through other means as well as through monitoringwater containers was 26.6%. Gender and the occupation of participants showedsome correlation to the reported knowledge on dengue control and their actual control practices and thesepeople have had right pracices on DHF prevention 4,17 and 4,95 times higherthan no understanding of DHF on.

Keyworks: dengue fever, KAP (Knowledge –Practice), the northen mountainous region, Aedes albopictus.

 



TỔNG ĐÀI HỖ TRỢ

Điện thoại 016.333.88884-016.333.88885-0912.998.566

Skype:

Zalo: 016.333.88884-016.333.88885-0912.998.566

Viber: 016.333.88884-016.333.88885-0912.998.566

Email: tranchicuongnihe@gmail.com

Perstar 500 EC PERSTAR 500EC có hoạt chấtchính là Permethrin 500g/L ; là sản phẩm chuyện dụng diệt ruồi, muỗi, ...

Tính giá dịch vụ
 diệt côn trùng

Bạn muốn diệt con gì?

Muỗi Kiến Gián Mối Khác

Nhà bạn có trẻ nhỏ/ người già/ bệnh ?

Nhà bạn là nhà mặt đất

Diện tích sàn

Số tầng


(VNĐ)

Nhà bạn là chung cư

Diện tích sàn


(VNĐ)

Kiến thức côn trùng Kiểm soát dịch bệnh Tra cứu thuốc bảo vệ thực vật